Ba La Mật Là Gì

Người Phật tử tu hạnh Bồ Tát ngoài mười điều thiện, phải tu tập pháp “Lục Độ Ba La Mật”. Lục là sáu. Độ là vượt mặt. Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita, người Trung hoa dịch nghĩa là “bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”. Chính là sáu món tu tập có khả năng như một chiếc thuyền, đưa mình từ bờ bên này, bờ vô minh của trần gian, vượt sang bờ bên kia, bờ giác ngộ của chư Phật. Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn hảo tuyệt vời nhất, rất rất cần được tu cả phước lẫn tuệ. Tu phước kể cả: “bố thí, trì giới, tinh tấn và nhẫn nhục”. Tu tuệ là “thiền định và trí tuệ”. Bài Viết: Ba la mật là gì I. BỐ THÍ BA LA MẬT Ðạo Phật thường được gọi là đạo từ bi. Vậy người Phật tử, khi noi theo dấu chân Phật, cũng rất cần phải biểu thị lấy lấy lấy được lòng từ bi và khiến cho nó cách tân và phát triển. Chiêu thức mầu nhiệm nổi trội là thực hành thực tế thực tiễn pháp môn “bố thí ba la mật”. “Bố” nghĩa là rộng rãi, cùng khắp. “Thí” là cho, là trao tặng. Bố thí là cho, là tặng cùng khắp, tặng cho tổng thể tổng thể và toàn diện mọi người, mọi vật, mọi Vị trí. “Bố thí Ba la mật” gồm nhiều chủng loại sau đây: Tài thí: Đem may mắn tài lộc, của cải, vật thực của bản thân mình ra cho tất cả những người chưa được không hề thiếu. Nhiều lúc đem những vật quý báu nhất của bản thân mình như thân mạng, cuộc sống thường ngày của bản thân mình để giúp vớt kẻ khác thoát thoát khỏi rất không an toàn. Pháp thí: Ðem chân lý, giáo pháp, những lời dạy của Đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác; hoặc chính mình y theo giới luật của Phật tu hành để thi công khuôn mẫu cho tất cả những người bắt chước, bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh. Pháp thí có khả năng lâu bền vì giúp cho tất cả những người hiểu được lẽ thật, phá được vô minh và đạt đến niềm sung sướng chân thật. Vì thế chính vì như thế Pháp thí là một trong trong hành động cao quý và có khả năng giúp độ, giải thoát hơn cả. Đức Phật dạy: (Pháp Cú 354) Coi như bố thí đón đầu tiên phong hàng đầu Là đem Chân Lý nhiệm mầu tặng nhau, Coi như hương vị tối cao Hương vị Chân Lý và và ngọt ngào lâu bền hơn Coi như hoan hỷ đón đầu tiên phong hàng đầu Niềm vui Chân Lý ngấm sâu tuyệt vời nhất và tuyệt vời và hoàn hảo nhất nhất, Người nào ái dục diệt rồi Vượt mặt phiền não, xa rời khổ đau. Vô úy thí: Vô úy nghĩa là không lo âu. Vô úy thí là lấy tiếng nói hay việc làm giúp cho tất cả những người khác đang lo âu thành hết sợ. Đem sự bình tĩnh và an vui đến cho mọi người và mọi vật.  Ðời sống đã khổ, lại càng khổ thêm vì sợ. Vì thế chính vì như thế làm cho tất cả những người hết sợ, đó chính là đã giúp đỡ cho họ bớt đi quá nửa khổ đau trong kiếp sống. Sự bố thí theo ba chiêu trò nhắc đến ở trên, thật ra không khó và không hiếm. Số lượng người rất có khả năng làm được. Nếu nhìn vẻ ngoài, thì những hành động ấy đều là bố thí cả. Nhưng nếu đánh giá và nhận định về tâm trí và động lực thúc đẩy bên trong, thì rất có khả năng có hai tình huống khác xa nhau: Bố thí “chấp tướng”: Nghĩa là bố thí với cùng một dụng tâm không trong trắng như cầu danh, cầu tài lợi, hoặc vì ganh đua, hoặc vì bị ép buộc, hoặc cho với cùng một tâm trí khinh rẻ, hối tiếc, nhận ra kẻ thân người sơ, kẻ ưa người ghét… Như vậy vì vậy là chấp tướng, là còn “bám níu lấy hình tướng”, phước đức của nhiều hành động ấy rất mỏng dính mảnh manh, như mây nổi giữa hư không, gặp gió thổi liền tiêu tan. Bố thí “không chấp tướng”: Nghĩa là bố thí với cùng một dụng ý trong trắng, đúng với ý nghĩa của chính mình nó. Bố thí vì tâm từ bi bình đẳng. Nhận thấy gia sản giống hệt như thân mạng mình đều là giả tạm, vô thường, nên không tham lam, hối tiếc. Biết cái ngã không sống sót thật, nên khi cho không thể cảm nhận có kẻ cho và người nhận, không tự cao, tự đại.  Bố thí như trên mới đúng chuẩn là bố thí Ba la mật. Toàn bộ tổng thể tất cả chúng ta đã trông nhìn rõ ràng giá cả của pháp bố thí Ba la mật. Công đức của chính mình nó không chỉ là có chỉ riêng cho tất cả những người nhận, mà lẫn tổng thể khung người cho nữa. Nó vừa độ người mà vừa độ mình. Có khả năng đưa mình và người từ bờ mê lầm đến bờ giác ngộ, từ địa vị phàm phu đến quả vị Bồ Tát. II. TRÌ GIỚI BA LA MẬT “Trì” là giữ ngặt nghèo. “Giới” là những điều răn dạy, ngăn cấm, những quy luật mà đức Phật đã chế ra. Ðạo Phật có phương châm đưa người đến chỗ giác ngộ. Vậy những giới luật, những giáo điều của Đạo Phật tất nhiên là có một giá cả và chức năng. Trì giới Ba la mật là môn tu bằng chiêu trò giữ gìn nghiêm chỉnh, hoàn hảo giới luật mà Đức Phật đã răn dạy. Căn cơ của chúng sinh không đồng nhau, và sự tu hành của nhiều đệ tử Phật cũng có nhiều phương pháp thức. Chính vì như vậy, Đức Phật phải chế ra rất nhiều giới luật và phân ra nhiều loại. Nói tóm lại là dù tại gia hay đã xuất gia, tổng thể tổng thể và toàn diện đều cần giữ cho “thân, miệng, ý” được sáng suốt, trong trắng, không độc hại. Thân không làm, miệng không nói và ý không nghĩ tới những điều sai lầm đáng tiếc không mong muốn, tàn khốc nữa. Như thế sẽ trừ diệt được hết những nghiệp ác Thành lập và hoạt động cực khổ, luân hồi. Một thiện tín giàu tâm đạo, có lòng tin tưởng chân thành Vị trí Tam Bảo nên được cực kì quý trọng mỗi lúc đến hầu Phật. Đại đức A Nan bạch hỏi Phật rằng nếu thiện tín đó viếng một vị giáo chủ khác, chưa hẳn là Đức Phật, thời vị đó dành được quý trọng như vậy chăng. Đức Phật dạy “Dân cư có đủ lòng tin Vị trí giáo pháp, trì giới ngặt nghèo, kỹ năng đức thời đến đâu cũng khá được quý trọng, tôn vinh”: (Pháp Cú 303) Tâm ai tràn trề lòng tin Có thêm giới hạnh giữ gìn thanh cao Lại khả năng đức dồi dào Đi đâu cũng khá được đón tiếp tôn vinh. Đông đảo thiện tín ưng thuận dâng một bộ y quý giá đến Đại đức Đề Bà Đạt Đa thay thế sửa chữa vì dâng đến Đại đức Xá Lợi Phất là một trong trong vị đại đệ tử của Đức Phật. 1 trong các thiện tín có tâm đạo, cảm thấy Đề Bà Đạt Đa đắp y, nói rằng thầy không xứng đáng được danh dự ấy. Nhân ngày này Đức Phật kể rằng trong một tiền kiếp Đề Bà Đạt Đa đã hành động hệt như. Ngài dạy là ngoài vấn đề trì giới ra còn cần làm, cần nói và cần nghĩ tới tổng thể tổng thể và toàn diện mọi việc lành, quyền hạn cho bản thân mình và quyền hạn cho tất cả những người và vật khác, giúp khổ toàn thể chúng sinh, hoá độ khắp hết mọi loài, không lo âu khó nhọc và tốn thời giờ, không nhận ra chủng loại. “Người bỏ hết tham dục, giữ gìn giới luật nghiêm minh, tự kiềm chế được mình và chân tình thì đáng mặc áo nhà tu”: (Pháp Cú 10) Người mà độc hại chẳng vương Giữ gìn giới luật vững vàng, nghiêm minh Luôn tự chế, rất chân tình Áo cà sa khoác vào mình xứng thay. Trì giới Ba la mật cũng có hai chiêu trò. Trì giới “chấp tướng” là chỉ có vẻ ngoài phía bên phía ngoài, chứ bên trong thì rất nhiễm ô. Trì giới như vậy chẳng ích lợi gì, chỉ thêm mất thời giờ và chưa hẳn là trì giới Ba la mật.  Chỉ có trì giới “không chấp tướng” là làm theo đúng những điều răn cấm mà Đức Phật đã chỉ dạy, làm vì hoàn hảo tuyệt vời nhất tự nguyện, không vì danh lợi, không vì háo thắng, không vì bị yếu tố hoàn cảnh ép buộc mà làm. Trì giới như vậy mới đúng chuẩn là trì giới Ba la mật, công đức sẽ vô lượng vô biên. III. TINH TẤN BA LA MẬT   “Tinh” là thuần một thứ, chuyên một việc, không sống sót xen lẫn một ý gì, một việc gì khác vào. “Tấn” là tiến tới mãi mãi không dừng, không gián đoạn hay thối lui. Hai chữ tinh tấn nói theo nghĩa đôi lúc là chuyên cần, chuyên cần tu tập để tiến trê tuyến phố Đạo. Người sống tồi tệ hơn, uể oải, không tinh tấn, dù trẻ tuổi và khoẻ mạnh, vẫn lười biếng và có tinh thần suy nhược, những người dân dân như vậy không sống sót trí tuệ để ngộ đạo. Truyện tích kể rằng một thời ở nước Xá Vệ có khá đa số người lớp trẻ trẻ tuổi được thâu nhận vào giáo hội. Nhiều vị vào rừng hành thiền và mấy tháng sau đắc quả A La Hán. Trong lúc đó một tổ khác không chịu đi, ở lại chùa. Nhóm đi hành thiền được Đức Phật khen ngợi, tiếp đón. Ngài giảng rằng: (Pháp Cú 280) Lúc cần cố gắng nỗ lực nỗ lực cố gắng lại lười Dù đang cường tráng, dù thời thiếu niên, Ý thức suy nhược triền miên Còn đâu trí tuệ mà tìm kiếm ra ra Con đường ngộ đạo thơm hoa. Người tu tập trước hết phải tinh tấn chặn đứng để các chiếc ác đừng phát sinh ra. Nghĩa là từ trước tới lúc này chưa làm ác thời nên tiếp tục giữ cái tính thiện đó. Một bà vợ mỗi ngày thường mang cung tên đưa cho chồng đi săn. Những vị Tỳ kheo câu hỏi chưa hiểu đến hành động như vậy bà có tạo nghiệp ác không. Đức Phật nghiên cứu và phân tích và lý giải rằng vì bà không sống sót dự định làm ác mà chỉ tuân thủ chồng nên không tạo nghiệp ác, giống hệt như “cầm thuốc độc mà tay không trầy trụa thì chất độc không ngấm vào người, vì vậy vô hại”: (Pháp Cú 124) Bàn tay không sống sót vết thương Dù cầm thuốc độc chẳng phương hại gì Người không làm ác sợ chi Chẳng lúc nào bị ác kia hại mình. Truyện tích kể rằng một tên trộm rất ác tâm. Y đã bảy lần đốt ruộng, bảy lần đốt nhà, bảy lần chặt chân bò của một trưởng giả giàu có. Còn chưa thỏa mãn y lại đốt luôn hương phòng mà trưởng giả đã dâng hiến Phật. Do tạo nghiệp ác như vậy, khi mạng chung tên trộm bị đọa vào âm ti A Tỳ, chịu hình phạt ở đó rất rất lâu. Nhưng quả báo chưa hết, đến khi đầu thai hắn phải chịu cực khổ làm thân ngạ quỷ, phía dưới thân hình một con trăn to to, mình luôn luôn bị ngọn lửa đốt cháy lần lần từ đầu đến đuôi, rồi từ đuôi đến đầu không ngưng nghỉ. Đức Phật nhân đó dạy rằng người dại dột làm điều ác mà chưa hiểu đến rằng sau đây chịu khổ như nhóm lửa để tự đốt mình : (Pháp Cú 136) Kẻ ngu nghiệp ác làm cho Để rồi quả báo đến liền hay đâu, Tương lai chịu vạn khổ đau Như là lấy lửa thiêu mau chính mình. Vì thế chính vì như thế nếu đã lỡ làm việc thao tác ác thời cần tinh tấn diệt cho mau các chiếc ác đã phát sinh. Một thầy Tỳ kheo bất mãn với giới luật đời tu, thường lặp đi lặp lại hành động phạm giới sai lầm đáng tiếc không mong muốn. Ðức Phật trách cứ và răn dạy “Dù lỡ làm việc thao tác ác thời nên ngưng ngay để giảm bớt khổ đau sau đây”: (Pháp Cú 117) Lỡ làm việc thao tác ác mất rồi Đừng nên tiếp tục bước đời lầm sai Chớ vui với việc ác này Tâm hay chứa ác có ngày khổ đau. Tiến thêm một bước nữa, người tu tập cần tinh tấn khiến cho những điều lành phát sinh và tiếp đến tinh tấn khiến cho những điều lành cách tân và phát triển. Nên nắm ngay lấy mọi thời cơ để thi công điều thiện. Những hành động như vậy sẽ tác động tốt nhất có thể xinh đến niềm sung sướng trường cửu của tổng thể tất cả chúng ta. Truyện tích kể rằng hai bà xã chồng người kia chỉ có mỗi một cái quần và hai người chia nhau mặc một cái áo. Lúc bà xã mặc áo thì chồng không mặc. Lúc chồng mặc thì bà xã không. Ngày kia người chồng mặc áo đi nghe Ðức Phật thuyết Pháp và lấy làm thỏa thích, phát tâm muốn dâng cái áo duy nhất của hai bà xã chồng anh, nhưng khi đó anh bị tâm luyến ái chế ngự. Suốt đêm ấy anh chiến đấu chống lại tính vị kỷ của bản thân mình. Cuối cùng anh reo lên: “Ta đã thắng, ta đã thắng”, và chạy đem dâng cái áo. Câu chuyện đến tai vua. Vua khen ngợi và ban thưởng anh xứng đáng. Đức Phật dạy: (Pháp Cú 116) Hãy mau xây đắp điều lành Còn bao điều ác tránh nhanh đừng làm, Điều lành lười biếng không ham Làm càng lừ đừ lại càng khổ đau Trong tim chuyện ác đến mau. Tinh tấn, giống hệt như bố thí và trì giới, đều phải có hai phương diện. Thứ nhất là tinh tấn có “chấp tướng”. Loại tinh tấn này chỉ sẽ tiến hành triển khai tiếng khen, hoặc vì sợ người trên la rầy, quở phạt hoặc với cùng một tâm trí háo thắng, quyết hơn người để tự cao tự đại. Như vậy không đúng chuẩn là tinh tấn Ba la mật.        Loại đầu tuần là tinh tấn “không chấp tướng”. Chính là tinh tấn một chiêu trò chân thành, quyết tâm thay thế sửa chữa, cảm thấy mình cần giải thoát thoát thoát khỏi luân hồi, nên rất cần phải nhanh lẹ chuyên cần tu luyện. Trong tổng thể tổng thể và toàn diện công danh sự nghiệp và công danh sự nghiệp vĩ đại ở đời hay chức năng vẻ vang trong đạo, cái tuyệt kỹ duy nhất để chiến thắng là pháp tinh tấn. Vì thế chính vì như thế câu nói ở đầu cuối của Đức Phật Thích Ca với những đệ tử trước khi Ngài nhập diệt là: “Hỡi những người dân dân! Hãy tinh tấn lên để giải thoát”. Việc làm tu hành, đi từ bờ mê đến bến ngộ, đường dài muôn trùng vạn dặm, trải qua bão táp mưa sa, nếu không dành được đức tinh tấn, giống như các bùa hộ mệnh và tuyệt kỹ tiến thủ, thì tổng thể tất cả chúng ta chỉ quanh quẩn mãi trong biển sinh tử luân hồi. Xem Ngay: Harbor Là Gì – Nghĩa Của Từ Harbor Trong Tiếng Việt IV. NHẪN NHỤC BA LA MẬT “Nhẫn” là nhịn, chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch lòng. “Nhục” là vụ việc sỉ nhục, điều xấu hổ, làm tổn thương đến lòng tự ái của bản thân mình. Nhẫn nhục Ba la mật là nhẫn nhục đến chỗ cùng tột đã không còn ai rất có khả năng nhẫn nhục bên cạnh đó nữa. Nhẫn nhục Ba la mật kể cả ba thứ về “thân”, về “miệng” và về “ý”. Thân nhẫn: Ðối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ, làm bức não Vị trí thân, mình cũng cam chịu, không phàn nàn hay chống cự lại. Ðây là chịu đựng về thể xác. Khẩu nhẫn: Tuy gặp việc trái ý miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rủa tàn khốc, những lời nhục mạ chua cay, mắng nhiếc tồi tệ. Luôn tỏ ra tao nhã, êm ái. Ý nhẫn: Dẫu gặp nghịch cảnh vẫn nhẫn nhục trong tâm địa địa, không hề phát ra một tâm trí căm hờn, oán thù giận, không nổi lên ý phản đối, những tâm trí hắc ám để trả thù. Trong ba thứ nhẫn này, “ý nhẫn” là khó nhất và quan trọng nhất. Bình thường thân rất có khả năng chịu đựng được cực hình, miệng rất có khả năng không thốt ra những lời nguyền rủa, nhưng ý vẫn ngấm ngầm phản đối và khó tính đốt cháy tim gan. Ðến khi “tâm trí” cũng không ngấm ngầm nổi dậy phản đối, sự khó tính lắng xuống tận đáy lòng, thì nhẫn nhục mới thật là hoàn hảo tuyệt vời nhất và vì vậy những cực khổ, oán thù thù đều dứt hết. Một Đại đức nọ ỷ mình là em họ Đức Phật nên không tôn trọng những vị Sư cao hạ khác. Lúc các vị này chỉ dạy để sửa sai hạnh kiểm lầm lạc ấy thì Đại đức cảm thấy cảm nhận tự ái bị tổn thương, đến than vãn với Đức Phật. Đức Phật biết rõ mọi chuyện nên khuyên nhủ Đại đức nên sám hối, nhưng Đại đức không nghe. Ngày này Đức Phật thuật một câu chuyện nhắc lại rằng trong tiền kiếp có lần Đại đức đã từng hành động hệt như. Sau này Đại đức chịu nghe lời dạy của Đức Phật, đến xin sám hối với những vị Sư cao hạ. Đức Phật nhân hiện nay dạy rằng lòng sân hận không nguôi trong tâm địa địa của nhiều người còn ôm ấp những sáng kiến trí tuệ sáng tạo như “nó lăng mạ tôi, đánh đập tôi, thắng lợi tôi, cướp giựt của bản thân mình” rồi từ đó đưa đến chuyện trả thù phục thù sẽ không hề dẫn đến an tịnh: (Pháp Cú 3) “Người kia chửi bới, đánh tôi Lại còn lấn lướt, cướp hoài. Giận thay!” Ai mà nghĩ mãi vấn đề đó Làm ra làm sao dứt bỏ được ngay hận thù. Khi hành pháp nhẫn nại thời tổng thể tổng thể và toàn diện mọi hận thù tiêu tan: (Pháp Cú 4) “Người kia chửi bới, đánh tôi Lại còn lấn lướt, cướp hoài. Giận thay!” Ai đã không còn nghĩ vấn đề đó Sẽ mau dứt bỏ được ngay hận thù. Một thiếu phụ nọ có thói quen đọc hồng danh của Đức Phật mỗi lúc có chuyện khủng hoảng rủi ro rủi ro xảy đến. Ông chồng phản đối, nhưng bà vẫn không bỏ thói quen ấy. Người chồng khó tính chạy đi tìm kiếm kiếm Đức Phật và hiện ra vài câu hỏi. Lối giải đáp của Đức Phật thể hiện một sức nhẫn nại khác thường làm người chồng nóng giận kia dịu dần, xin theo Ngài và thọ lễ xuất gia. Mấy người anh của ông hay tin, đến lăng mạ Đức Phật và phỏng vấn Đức Phật tại sao quyến rũ ông. Ngài nhẫn nại trước những lời nguyền rủa và giảng Pháp cho tổng thể những người dân ấy. Rốt cuộc họ cũng xin quy y. Lúc các Tỳ kheo tán dương hạnh nhẫn nại của Đức Phật thời Ngài dạy: (Pháp Cú 399) Ai không khó tính với những người dân Chịu lời khiển trách, đòn roi, phạt hình Lấy điều nhẫn nhục lặng thinh Làm quân lực đảm bảo mình một bên Bà La Môn thật xứng tên. Một vị Tỳ kheo thường nặng lời lăng mạ một vị khác và vị đây cũng phỏng vấn lại. Đức Phật khuyên những thầy đừng nên gây thù trả oán thù và đào tạo và huấn luyện về việc việc quyền hạn của nhiều người biết giữ tĩnh mịch trước những lời lăng mạ của kẻ khác. Người hành đúng theo lời trong trong thực tiễn này, dầu còn tại thế, cũng được đánh giá và nhận định như đã đắc quả Niết Bàn vì đã không còn gì phẫn nộ và không sống sót tâm lấy oán thù trả oán thù: (Pháp Cú 134) Nếu như ngươi giữ lặng yên Như chuông bể nứt im lìm chẳng vang Trước lời tàn khốc phũ phàng Niết Bàn ngươi đã thênh thang đi vào: Chẳng còn sân hận một 1 chút nào. Đức Phật mỗi ngày khuyên dạy hàng tín đồ đừng nên trả thù phục thù mà rất cần phải hành pháp nhẫn nại, luôn luôn, trong những tình huống, ở mọi Vị trí, trước mọi khiêu khích. Đức Phật tán dương những ai sẵn sàng chuẩn bị chuẩn bị sẵn sàng chịu đựng lỗi lầm của kẻ khác, mặc dù cho trong tay có đủ thế lực tối cao để trả thù. Trong quyển Kinh Pháp Cú này có tương đối nhiều tình huống đã đã cho chúng ta biết rằng Đức Phật luôn luôn hành pháp nhẫn nại, dù lắm khi Ngài cũng biến thành chỉ trích thậm tệ, bị chửi mắng và bị tiến công. Nhẫn nại không lúc nào là biểu hiện của sự việc sợ sệt, hèn mạt, của ươn hèn hạ kém, hay chủ bại, đầu hàng. trái lại đó là sức khỏe thể chất quật cường của con người tự chủ. Người tu tập nhẫn nhục vì đã nhận được đc được được thật tính của con người là luôn luôn tĩnh mịch, bình đẳng nếu như với tổng thể tổng thể và toàn diện mọi sự, mọi việc, không hề bị lay động bởi một cảnh vật gì dù là thuận hay nghịch, hợp lí với mình hay trái với mình. Muốn có đức tính không sân hận thì rất rất cần được tu pháp quán “từ bi” hay “nhẫn nhục” mới rưới tắt được lửa sân hận. Một đàn bà nhan sắc cực kỳ đẹp. Cha cô chưa ưng gả cô cho ai. Đến khi ông trông cảm thấy dáng mạo tráng lệ và trang nghiêm của Đức Phật trên phố đi khất thực, ông liền ngỏ ý cầu thân. Đức Phật thẳng thắn không chấp thuận đồng ý. Cô bé bị chạm tự ái, nguyện trả thù. Sau này cô được chọn vào hoàng cung làm vương phi. Khi nghe tới tới tin Đức Phật cùng chư Tăng đi ngang qua vùng của cô, cô bèn thủ đoạn thuê mướn người đi theo lăng mạ Ngài thậm tệ. Ðại đức A Nan không chịu nổi, bạch với Ðức Phật, xin Ngài rời đi Vị trí khác. Nhưng Ðức Phật khuyên thầy A Nan nên thực hành thực tế thực tiễn pháp nhẫn nhục và Ðức Phật tự ví “như voi chiến lâm trận, bình thản vững tiến giữa lằn tên mũi đạn, sẵn sàng chuẩn bị chuẩn bị sẵn sàng và thản nhiên hứng chịu những lời nguyền rủa”: (Pháp Cú 320) Như voi ra trước trận tiền Luôn luôn hứng chịu cung tên bắn mình Như Lai nhẫn nhục tu hành Chịu điều phỉ báng cũng đành lòng thôi, Sống công bằng chiêu trò lắm người Xa điều giới luật, ghét Vị trí cửa thiền. Nhẫn nhục cũng có hai phương diện. Thứ nhất là nhẫn nhục có “chấp tướng”. Chính là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang địa chỉ tọa lạc trong yếu tố hoàn cảnh có hại chưa thể trả thù được, hoặc mong cầu được người khen, hay được chức trọng, quyền cao; vì khinh bỉ đối thủ, hay tự cho bản thân mình cao không chỉ có vậy người. Nhẫn nhục như thế cho nên là do còn do dục vọng “tham, sân, si, và mạn” thúc đẩy, chưa hẳn là nhẫn nhục Ba la mật. Thứ nhì là nhẫn nhục “không chấp tướng”. Chính là nhẫn nhục do ý muốn bài trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tự ái, tham lam… Không những thế, còn nhắm phương châm trau dồi lòng từ bi và hỷ xả. Đức Phật dạy “Niết Bàn là tối thượng, nhẫn nhục là khổ hạnh tối cao, người tu hành không gây hại cho tất cả những người khác”: (Pháp Cú 184) Phật thường dạy đã lâu rồi Niết Bàn là chốn tuyệt vời nhất và tuyệt vời và hoàn hảo nhất nhất cao siêu Cũng tương tự nhẫn nhục trăm chiều Lấy điều khổ hạnh làm điều tối cao, Xuất gia chẳng hại ai nào Sa Môn tu tập nỡ sao hại người. Lửa sân hận rất có khả năng đốt thiêu tổng thể tổng thể và toàn diện những gì quí báu, mà loài người đã kiến thiết xây dựng được trên cộng đồng này. Lửa sân hận chỉ rất có khả năng bị dập tắt bằng nước nhẫn nhục Ba la mật. V. THIỀN ĐỊNH BA LA MẬT Thiền Định là tu tập bằng chiêu trò tập trung chuyên sâu sâu xa tâm trí, tâm trí vào một trong những đối tượng người tiêu dùng quý khách người sử dụng duy nhất không cho tán loạn, để tâm trí được lặng ngắt và trẻ trung và tràn đầy năng lượng, hầu quan sát và xem xét một vụ việc cho đến cùng cực và vì vậy nghiệm ra được chân lý.  Trong Bát Chánh Đạo cũng có Định. Trong sự suy tầm điều tra nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cũng rất cần phải đến Định. Tâm có định thì trí mới sáng suốt để tâm lý và tìm tòi được sâu xa. Tu tập Thiền định có tương đối nhiều chức năng tốt nhất có thể đẹp tuyệt vời như giữ được tâm từ bi, thương mến chúng sinh; những phiền não tham, sân, si, đã không còn phát sinh nữa; gìn giữ được những giác quan không cho sắc, thanh, hương, vị, xúc lay động; vui miệng lạc thú; xa lìa được ái dục; chứng được chân không; cởi mở được tổng thể tổng thể và toàn diện những dây trói buộc sự giải thoát; khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật. Khi tâm đã được điều phục, cảnh thiền đã được chứng đắc, thời cùng theo với trí tuệ được đưa đến cảnh giới an lạc Niết Bàn: (Pháp Cú 23) Nhờ tu thiền định thâm sâu Tháng năm bản lĩnh, trước sau chuyên cần Người hiền trí được bình yên Thân tâm giải thoát, Niết Bàn hưởng vui. So với thiền định Ba la mật là thiền định lên khá cao đến mực xuất trần gian. Tâm và ý khi đó hoàn hảo tuyệt vời nhất thanh tịnh, đến nỗi đã không còn biết là thanh tịnh, đã không còn cảm thấy tướng thanh tịnh nữa. Lúc ấy trí tuệ sáng suốt cùng cực mới phát sinh. VI. TRÍ TUỆ BA LA MẬT Trong Đạo Phật, hai tiếng vô minh được Để ý đến luôn, vì chính vô minh là nguồn gốc, là đầu dây mối nhợ của cực khổ của sinh tử luân hồi. Đức Phật thường dạy chúng sinh rằng: “Cái khổ của lạc đà, của lừa ngựa chở nặng mãn kiếp, cái khổ trôi lăn trong tam giới chưa gọi là khổ. Ngu si không trí tuệ, tin yêu sai lầm đáng tiếc, chưa hiểu đến phía đi, cái ấy mới thật là khổ”. Xem Ngay: Stance Là Gì – Nghĩa Của Từ Stance Trong Tiếng Việt Đức Phật còn dạy “Si là nguồn gốc của bao tội lỗi, trí tuệ là nguồn gốc của muôn hạnh lành”. Toàn bộ tổng thể tất cả chúng ta là Phật tử tổng thể tất cả chúng ta không thể muốn gây tội lỗi để chịu quả khổ đau, tổng thể tất cả chúng ta chỉ mong làm được những hạnh lành để hưởng phước quả và được giải thoát. Vậy tất nhiên tổng thể tất cả chúng ta phải tu để cố đã sở hữu trí tuệ Ba la mật. Trí tuệ Ba la mật là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một chiêu trò thấu đáo tinh tường đến nơi đến chọn lựa chốn, đã không còn gì sai lầm đáng tiếc không mong muốn được, trông trông nhìn rõ ràng ràng chân lý của vạn vật, vũ trụ. Muốn vậy cần diệt vô minh. Đức Phật dạy rằng “Vô minh là vụ việc ô trược, cấu uế, xấu xa nhơ bẩn tệ hại nhất. Hãy dứt bỏ vô minh để trở thành người trong trắng không ô trược”: (Pháp Cú 243) Điều nhơ bẩn, việc xấu xa Đứng đầu tổng thể tổng thể và toàn diện đó chính là vô minh Tỳ Kheo nên diệt tận tình Bài trừ cho hết vô minh, ngu đần Thành người thanh tịnh thân tâm. Muốn dành được trí tuệ, Đức Phật chế ra nhiều pháp tu. “Giới, Ðịnh, Tuệ” và “Văn, Tư, Tu” là những pháp được thực hành thực tế thực tiễn cực shock nhất. “Giới, Định, Tuệ” đã được đề cập tới trong một trong những phần trước. Vị trí đây cần tìm hiểu thêm về “Văn, Tư và Tu”. “Văn” là nghe. Nghe lời giảng của thầy, của bạn, nghe tiếng nói chứa trong kinh, trong sách của chư Phật, Bồ Tát và thánh hiền. Đọc kinh sách Phật và nghe thuyết pháp là bắt đầu. Khi đã gom góp, tích trữ được rất nhiều tài liệu rồi thời ta tĩnh mịch nghiền ngẫm, tâm lý. Chính là tiến độ quá trình “Tư”. “Tư” là suy tư, có suy tư mới thấu hiểu được những lời dạy của chư Phật và Thánh hiền, mới thấu hiểu được những giáo lý cao siêu của Đức Phật. Khi đã hiểu rồi thời rất rất cần được đem những điều hiểu ấy ra thực hành thực tế thực tiễn. Chính là tiến độ quá trình thứ ba trong việc tu học, tiến độ quá trình “Tu”. “Tu” là tu học. Giai đoạn quá trình này mới là tiến độ quá trình quan trọng, khó khăn, nhưng vô cùng thiết thực và ích lợi, vì nó đưa tổng thể tất cả chúng ta đến chỗ giải thoát. Để chiếm dụng một quan niệm tương đối chi tiết cụ thể, bạn cũng sẽ có thể hiện ra ba tính năng chính của trí tuệ như sau: Dứt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh. Khi trí tuệ đã có rất nhiều thì mê lầm phải mất, như khi ánh nắng phát ra thì bóng tối tất phải tan biến đi. Mê lầm đã không còn gì thì phiền não tất đã không còn phát sinh ra nữa. Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, như màn sương sớm bao trùm cảnh vật, nay trí tuệ phát chiếu trực tiếp vào sự vật, chẳng khác gì khi ánh nắng mặt trời lên, thì màn sương tất phải tan biến, hôm nay thực tướng thực tánh của sự việc vật được lộ bày như thật. Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì ta với những người dân, ta với vật tưởng như riêng biệt, sai khác. Nay nhờ trí tuệ soi sáng, trông nhìn rõ ràng được tâm cảnh đều chân không, nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn hảo tuyệt vời nhất. ____________________________________________________ Tâm Minh Ngô Tằng Giao Thể Loại: Giải bày trình diễn Kiến Thức Cộng Đồng

Xem Ngay:  Pháp Quyền Là Gì - Pháp Quyền Hay Pháp Trị

Bài Viết: Ba La Mật Là Gì Thể Loại: LÀ GÌ Nguồn Blog là gì: https://hethongbokhoe.com Ba La Mật Là Gì

Leave a Reply

Your email address will not be published.