Nghệ Thuật Đương Đại Là Gì, Một Hành Trình Của Nghệ Thuật Đương Đại Thế Giới

Nghệ Thuật Đương Đại Là Gì, Một Hành Trình Của Nghệ Thuật Đương Đại Thế Giới

Nghệ thuật đương đại VN đã có rất nhiều gần 20 năm “lịch sử” với sự lúc đầu của một số nghệ sĩ tiền phong nội địa cùng các người nước ngoài chọn VN như 1 điểm dừng chân quan trọng trên hành trình sáng tạo and search bản thể. Chính là một bối cảnh lịch sử còn rất đông điểm trống: không chứa một luồng thông tin chính thống nào về dạng thức nghệ thuật này, kể cả lý thuyết, sự hình thành-vận động-tiến triển của nghệ thuật đương đại trên thế gới, trong Khu Vực, một hệ thống báo chí phê bình đúng nghĩa ở nội địa, một hệ thống kiến thức trong trường học, and hơn hết là một hệ thống bảo tàng-gallery-curator-công chúng.

Bài Viết: Nghệ thuật đương đại là gì

Có không ít ý kiến cho rằng nguyên do của một bối cảnh như thế là do sự thờ ơ, e ngại của giới chức văn hoá nếu với dạng thức nghệ thuật này. Trong sự chuyển động liên tục của thời hạn and tư duy con người, nghệ sĩ thường hay bị “hụt hơi”, đặc biệt là khi họ lại đứng trên một bối cảnh có quá nhiều điểm trống… 

Trong bối cảnh này, có lẽ không có nhiều nghệ sĩ như Như Huy – luôn áp dụng những thời cơ làm việc với các nghệ sĩ nước ngoài để tiếp cận nhanh and bản chất hơn với các chuyển động của thế gới nghệ thuật, cũng tương tự luôn bận rộn với sự chuyển động của những lý thuyết đến từ phía bên ngoài and chủ thuyết cá nhân. Anh không giấu giếm sự băn khoăn and những ý tưởng đầy ắp của tớ khi đề cập đến những khía cạnh cơ bản của nghệ thuật đương đại VN. Dẫn chứng là cuộc phỏng vấn bên dưới đây. Có vẻ những thắc mắc của mình đã chỉ còn như các gợi ý mà thôi, để anh “thao thao bất tuyệt” rất đông suy nghĩ, dẫn giải, and tự vấn của tớ. Có thể sẽ không dễ dàng với bạn đọc khi tiếp nhận content này. Tuy vậy, chỉ có thể hi vọng rằng bạn sẽ đọc.

Đào Mai Trang: Anh đã quan sát and tham gia nhiều dự án, chương trình triển lãm thẩm mỹ và làm đẹp đương đại ở VN. Theo đó, anh cảm nhận cụm từ “Nghệ thuật đương đại” ở VN đã and đang đc hiểu một phương thức rộng rãi nhất theo nghĩa như vậy nào? And vì sao? 

 

*

Nghệ sĩ Như Huy

Như Huy: Tôi xin kể một câu chuyện bé dại. Tôi chứa một đứa bạn nghệ sĩ Pháp. Một ngày nọ, tôi hỏi: “Bạn nghĩ gì về nghệ thuật đương đại?”. Không ngần ngại, cô vấn đáp ngay: “Tại sao lại phải nghĩ về nghệ thuật đương đại nhỉ? Bất kỳ các gì tôi đang làm, đó chính là nghệ thuật đương đại”. Nhìn một góc độ nào đó, cô trọn vẹn có lý. Bởi nếu nhìn nhận nghệ thuật đương đại (contemporary art) như 1 dòng chảy liền mạch, theo phương thức đọc and diễn giải phát xuất từ ý niệm nghệ thuật phương Tây, ý kiến của cô trọn vẹn xác đáng. Theo phương thức nhìn này, nghệ thuật đương đại đó chính là sân khấu bây giờ, sau hết của nghệ thuật phương Tây, theo cái đại tự sự (để mượn lời triết gia nghệ thuật Arthur C. Danto) của Gombrich, bắt nguồn từ văn minh Hy-La, cho tới Trung cổ, Phục hưng, tiền lãng mạn, lãng mạn, hiện đại, etc. Từ phương thức nhìn này, and bên dưới thước đo vẻ ngoài, nghệ thuật đương đại phương Tây phát triển theo một chuỗi đứt rời (discontinuity), của những nhẩy vọt mà lớp sau chồng lên lớp trước. 

 

Tác phẩm của Jackson Pollock

Lấy ví dụ ngay chính phong trào thể hiện trừu tượng chẳng hạn, một phong trào đc Greenberg coi là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại với nhân vật người hùng Jackson Pollock, tôn lên tính nổi loạn chống thế gới phương Tây, tôn lên sự huyền bí and tiền phong của nghệ sĩ and tác phẩm, etc., thì ngay sau đó có mặt phong trào PopArt, một dạng giải phá những công dụng kín đáo của nghệ thuật trừu tượng để mang vào nghệ thuật những thông điệp trắng phớ của đời sống, của một thế gới hậu công nghiệp ngập tràn hàng hoá and chìm trong cơn mê truyền thông online. Ở một tầm nhìn khác – như trong cuốn sách mới xuất bản phương thức đây một số năm, art since 1900, của mấy tác giả như Rosalin Krauss, Hal Foster, Yves Allain Bois and Benjamin H.D. Buchloch, mà vào thập kỷ 80, từng là những chủ soái về lý luận của tạp chí tiền phong cổ vũ hậu hiện đạiOctober (tên của tạp chí này đc đặt theo thời hạn của cuộc Phương thức mạng tháng Mười Nga, để đề cao những thực hành hướng tới đại chúng của những nghệ sĩ Nga thời đó, như phim tài liệu chẳng hạn) – lịch sử nghệ thuật lại đc đọc theo một tầm nhìn; liên nối phương thức cuộc phương thức mạng and phong trào của nó với công đoạn ngoặt trong những phát triển về khoa học, thế gới and triết học phương Tây. Ví dụ như Rosalind Krauss đã đọc những sự phát triển của nghệ thuật phương Tây như thể là thành quả của những tác động từ chủ nghĩa kết cấu and giải kết cấu, trong khi các người khác lại đọc sự phát triển của nghệ thuật trong tác động của những khám phá về tâm phân học, trước tiên là của Freud, and sau này của Jung, hay Lacan, rõ nét là trong xự có mặt của những phong trào nữ quyền and hậu nữ quyền trong nghệ thuật, etc. 

Như thế, ta trông rất rõ ràng ràng rằng, cái nghệ thuật đương đại mà đứa bạn tôi đang thực hành, dù nhìn bên dưới góc độ nào, cũng chỉ là một dạng tập đại thành của nếu không phải phát minh and tiến triển thế gới, triết học phương Tây, thì cũng là một chặng liên tiếp and tuyến tính trong chuỗi phát triển mang tính avant garde cúa ý niệm nghệ thuật and nghệ sĩ phương Tây, từ thời Phục hưng. Thậm chí, sau này, khi triết gia mỹ học Arthur C. Danto nêu ra khái niệm về dạng “nghệ thuật sau khi nghệ thuật đã chết” (Art after the end of art), là dạng nghệ thuật hết còn hình thành theo một chuỗi phát triển tuyến tính từ quá khứ, mà tồn tại một phương thức nguyên hợp, chiết trung, thật ra, các bạn đều hiểu đó cũng chỉ là một phương thức đọc nghệ thuật bên dưới ánh nắng của chủ nghĩa hậu hiện đại, một mặt hàng – ít ra về mặt lý thuyết – có gốc gác từ phương Tây, and cái nghệ thuật sau khi nghệ thuật kết thúc ấy, cũng chỉ là một thứ nghệ thuật đc đặt trong trường hợp “hậu hiện đại” (để mượn lời triết gia Lyotard) mà thôi. Như thế, ta cảm nhận, ở đây, với những nghệ sĩ không có nền tảng phương Tây, hay rõ nét là nghệ sĩ VN chẳng hạn, một số thắc mắc đc đề ra, đấy là việc, liệu họ, sống and thực hành nghệ thuật tại các Khu Vực mà mọi cơ sở hạ tầng về mỹ học, triết lý, tri thức hay bản thân nghệ thuật – nếu nếu với thước đo phương Tây, đều ở mức sơ khai, Vị trí mà những khái niệm như nghệ thuật (art), thẩm mỹ và làm đẹp (fine art), nghệ thuật hiện đại (modern art) đều chỉ là các thứ mới du nhập gần đầy một thế kỷ, liệu rằng ở một Vị trí như vậy, một nghệ sĩ có thể ung dung thư thái mà vấn đáp rằng: “Các gì tôi đang làm đều là nghệ thuật đương đại hay không?”. And ngay cả các người xem phương Tây nữa, liệu họ có thể trọn vẹn tri nhận những thực hành nghệ thuật của nghệ sĩ tại một Khu Vực sơ khai như vậy mà không nẩy ra một thắc mắc: “Phải chăng ‘họ’ cũng chiếm hữu ý niệm nghệ thuật của các bạn?” (như tên một cuốn sách của Denis Dutton). 

Ở đây, tưởng cũng còn cần đề ra một thắc mắc nữa trong mối quan hệ giữa những nghệ sĩ địa phương thực hành “nghệ thuật đương đại” and những công chúng phương Tây. Chính là việc, trong điều kiện nào đó, liệu những tác phẩm của các nghệ sĩ ấy có thoát khỏi thân phận của các tác phẩm đc “siêu mua hàng” chỉ cho một dạng cảm thức sẵn có nào đó? And bởi thế, sẽ xoay ra thành một thứ hàng hoá văn hoá mà dị bản thô sơ của chúng đó chính là những đồ vật hương xa bày bán sản phẩm loạt trong những tủ hàng lưu niệm Vị trí nhà ga sân bay? Đáng băn khoăn hơn, liệu những nghệ sĩ địa phương, trong điều kiện này, rồi có rơi vào ma trận bát quái của những siêu Game văn hoá, Vị trí mà những hình thái xung đột, phản biện, tử đạo, phương thức tân cũng tương tự những giải thưởng rồi cũng chỉ đơn thuần là những levels khác nhau trong một thuật toán đã lập trình sẵn nhằm mục đích giải trí thuần tuý. 

Tôi cũng muốn đề ra thêm 1 thắc mắc nữa ở đây, đấy là việc, nếu ta nhìn văn hoá, đặc biệt là văn hoá trong những Khu Vực châu Á, Vị trí mà mọi chăm sóc của chủ thể vào bây giờ không lúc nào bắt nguồn trên mối quan hệ theo kiểu đứt đoạn (discontinuity) với quá khứ, từ góc độ tiếp nhận nghệ thuật, liệu có mất an toàn (and bất công) không, khi, với các nghệ sĩ mang những tư duy địa phương “tiền diễn giải” – các nghệ sĩ do hoàn cảnh lịch sử and chính trị, hiện vẫn còn áp dụng các phương tiện and thao tác với những ý niệm nghệ thuật – nếu đọc theo tầm nhìn cúa lý thuyết phát triển ý niệm nghệ thuật and nghệ sĩ phương Tây, thì trọn vẹn lỗi thời, chẳng hạn các nghệ sĩ vẫn thao tác với sơn dầu, bột mầu, hay tranh khắc gỗ, etc., hoặc những nghệ sĩ mà bởi bắt nguồn từ ý niệm nghệ thuật địa phương – những thực hành của họ đậm màu thị giác hay triết lý theo kiểu chủ toàn – bởi thế không mang mầu sắc ý niệm hay phản tư, chủ biệt theo mẫu ý niệm nghệ thuật phương Tây, liệu những nghệ sĩ ấy có đc gọi là nghệ sĩ đương đại không? And những tác phẩm của họ có đc để mắt tới không, trong những siêu sân khấu nghệ thuật theo quy mô phương Tây? 

Này là một thắc mắc rất rất đáng đề ra, bởi nếu các bạn biết rằng, gần đây, đã có rất nhiều một cuộc điều tra từ chính những nhà nghiên giúp phương Tây, điều tra gần như cục bộ những dạng siêu triển lãm biennale and triennale trên thế gới, trong vòng 5 năm quay về, and kết quả điều tra của họ là, trong cục bộ những siêu triển lãm đó, chứa một nhóm nghệ sĩ khoảng vài trăm người luôn có mặt. And điều quan trọng hơn nữa là, trong số mấy trăm nghệ sĩ này, không một ai thực hành những hình thái nghệ thuật “cũ”, như vẽ tranh hay làm tượng cả. 

Vấn đề đề ra ở chính là, nếu thực tồn tại một cái chuẩn nghệ thuật đương đại nào đó, để từ đó chiếu cái nhìn vào diễn ngôn nghệ thuật đương đại nói tóm lại, cái chuẩn này trọn vẹn chỉ hữu ích cho những nghệ sĩ có nền tảng phương Tây – cả về mặt lý thuyết and thực hành mà thôi. Điều đó hệt như việc chứa một anh võ sĩ đấu vật ở Hà Tây chẳng hạn, một ngày nọ đc mời tham dự vào một cuộc đấu quốc tế với lời hứa cụ thể đây sẽ là một cuộc đấu công bình. Thế nhưng, điều quan trọng ở chính là, đối phương của anh ta là một võ sĩ quyền Anh hạng nặng and luật đấu công bình mà cả anh ta and đối phương ấy phải tuân theo là luật đấu quyền Anh. Lẽ đương nhiên cũng sẽ có ý kiến, vậy anh đô vật đó sao không học luật đấu quyền Anh đi, sao không bỏ vật mà tập quyền Anh đi, rèn luyện thật cẩn thận càng vào, rồi tham gia thi đấu bằng cái “luật quốc tế” để giành thắng cuộc theo “luật quốc tế” đó. Ý kiến này, mới nghe qua, and xét trong cuộc đấu của anh đô vật and võ sĩ quyền Anh hạng nặng, có vẻ cũng có lý, thậm chí nếu xét mở rộng ra ngành nghề thương mại chẳng hạn, trong thời đại cộng đồng hoá, cũng vẫn còn tồn tại thể chấp nhận đc – song, nếu đưa vào Khu Vực văn hoá, thì hẳn sinh ra rất đông vấn đề.  And hẳn là cái cuộc đấu không bằng sức trong thí dụ vừa nêu về anh đô vật ở Hà Tây and võ sĩ quyền Anh dường như, khi liên nối vào trong Khu Vực văn hoá, cũng đó chính là điều kiện Homi K. Bhabha đã nhận thấy, đại ý, “khi luật ngôn ngữ trong vai trò là hệ thống gọi nghĩa (signifying system), là khả năng phát biểu, biến thành sự lạc lối (misrule) của diễn ngôn: (khi đó), chỉ chứa một số người thôi, là có quyền hạn phát biểu theo Xu thế lịch đại and biện biệt, còn với các ‘kẻ khác’, các đàn bà, người nhập cư, các con người từ thế gới thứ ba, người Do Thái, người Palestine chẳng hạn – chỉ có thể phát biểu từ rìa lề and từ góc độ thô sơ.”  Tình trạng này rất mất an toàn bởi, một điều đơn sơ nhất mà ai cũng sẽ nhận cảm nhận, đấy là việc nó sẽ bị dẫn tới thế-giới-một-chuẩn, Vị trí mọi sự khác biệt, nếu muốn sống sót và đã được nhìn nhận, phải tự giải hoá, ban đầu từ khía cạnh vẻ ngoài, and lập tức sau đó, phần content, phần “nghĩa” cũng sẽ bị hủy diệt luôn. 

Xem Ngay:  Bergamot Là Gì - Tinh Dầu Cam Bergamot

Đào Mai Trang: Tôi muốn các bạn quay quay về thắc mắc của mình về tầm nhìn của anh về khái niệm “Nghệ thuật đương đại” ở VN.

Xem Ngay: Description Là Gì – Phương thức Viết Mô Tả Description Chuẩn Seo

 

Như Huy: Quay về thắc mắc của chị, cụm từ “thẩm mỹ và làm đẹp đương đại” đã and đang đc hiểu rộng rãi nhất ở VN như vậy nào. Từ các khai triển, dù vắn tắt, trên đây để nhìn nhận cái văn cảnh chung về lý thuyết and thực tiễn của mối quan hệ giữa cái thực hành nghệ thuật đang giới thiệu của những nghệ sĩ VN, một quan điểm lịch đại theo quy mô phương Tây của nghệ thuật đương đại, and những mâu thuẫn nẩy ra khi hai thực thể này tương tác cùng với nhau, soi chiếu vào nhau, có thể bảo rằng, nghệ thuật đương đại VN hiên giờ – từ góc độ thực hành nghệ thuật, nếu nhìn nhận như 1 hệ thống công cụ, đc coi là installation, performance, v.v. and v.v., hay từ góc độ vai trò nghệ sĩ, đc nhìn nhận như những thánh tử đạo, cố gắng thử nghiệm các hành vi tiền phong hoặc sắm vai trò phản kháng trong một quan điểm chính trị ta-địch theo kiểu chiến tranh lạnh – dường giống như đang sáng sủa bước vào một mùa bội thu, khi song song với sự nhìn nhận sự chăm sóc của công chúng and học giả phương Tây, đa phần là các người vẫn đang nhìn nhận nghệ thuật VN theo mẫu hình phản kháng của chủ nghĩa hiện thực châm chích (cynical realism), của phong trào đại chúng có Xu thế chính trị (political pop), hoặc của dòng nghệ thuật rởm, sặc sỡ (Gaudy art – có Xu thế minh hoạ về các biên tập của một thế gới theo hướng hàng hoá) của nghệ thuật đương đại Trung Hoa – là có nhiều thêm thời cơ cho những nghệ sĩ địa phương có mặt trên những sân khấu xa hơn trong nước. Song nếu nhìn nó như Khu Vực của những thực hành văn hoá, Vị trí quyền phát biểu and quyền phản biện cần phải được tôn trọng, Vị trí của diễn trình, không phải minh hoạ mà thiết lập diễn ngôn and sáng tạo chủ đề, Vị trí mọi tầm nhìn and giọng điệu độc lập cần phải được điều tra và đã được đọc kèm theo song song với những văn cảnh and những lề luật rõ nét chi phối quy trình hình thành nên chúng, Vị trí – bởi đã có rất nhiều sự convert tinh tế (hoặc là tường minh, hiển ngôn, hoặc là ngầm giấu) từ thượng tầng thế gới, nên quan điểm chính trị kiểu chiến tranh lạnh ta-địch không còn là một nguồn chủ đạo chi phối không trung tư duy and thực hành của nghệ sĩ nữa, thay vào đó (hay cùng tồn tại đó) là một quan điểm chính trị kiểu mới đặt trọng tâm vào việc nhìn and tái diễn giải bản thân của những chủ thể trong một không trung đa hướng mới; Vị trí, cùng lúc với những thuận lợi đc tạo được từ không trung ấy, nếu giữ một cái nhìn ngây thơ, sẽ có rất đông nguy cơ to của việc bị định nghĩa and bị tự định nghĩa theo cái nhìn sẵn, nói phương thức khác, Vị trí mà, những chủ thể từ các Khu Vực ngoại biên, các Khu Vực theo Homi K. Bhabha, chỉ có quyền phát biểu từ rìa viền and không có quyền kết luận, nếu không bằng mọi giá bảo trì quyền-được–sai, quyền báo nghĩa (right of signify), cũng tương tự những tầm nhìn phê phán, sẽ rất dễ dàng lạc vào ma trận của những siêu Game văn hoá – một thứ cường toan sẽ tẩy sạch mọi khía cạnh văn hoá, khía cạnh nghĩa, trong thực hành nghệ thuật của những nghệ sĩ ấy, để chỉ còn lại ở đó hoặc là các đống chai lọ thí nghiệm phương thức tân nghệ thuật thuần tuý mang tính vẻ ngoài đơn thuần, hoặc là những slogans chính trị 1 chiều (hoặc chiều ta, hoặc chiều địch) đơn sơ. Nếu nhìn từ phương thức nhìn này, theo bản thân tôi quan sát, thực sự là chưa có nhiều sáng sủa lắm về cái gọi là nghệ thuật đương đại VN. 

Đào Mai Trang: Nhìn theo một quy trình, các biến đổi (bổ sung cập nhật, hoạt động) trong suy nghĩ của cá nhân anh về “thẩm mỹ và làm đẹp đương đại” đã giới thiệu như vậy nào, anh có thể nói về tiến trình này trải qua những chuyển động nghệ thuật của anh theo thời hạn?  Như Huy: Thật ra, bản thân cá nhân tôi, với tuổi tác của tớ, khi tiếp cận với nghệ thuật đương đại cũng có các thuận lợi and ăn hại riêng. Như 1 người thuộc cái lứa tuổi, gọi là 7x. Lứa tuổi bắc cầu, khi cùng lúc, có cả các trải nghiệm của dạng hiện thực 1 chiều của thời kỳ bao cấp lẫn các trải nghiệm của một đời sống đa diện, hay như người ta nói, của một hiện thực phẳng hơn, Vị trí các năm tháng mà các bạn đang tồn tại hiên giờ. Nhìn nhận một phương thức nào đó, có thể bảo rằng chính hai xung lực từ hai dạng hiện thực này đã cũng trở nên dòng đời chúng tôi, and rõ nét, là cũng trở nên bản thân tôi. Nói phương thức khác, các xung lực này, trong quy trình phản biện lẫn nhau đã tạo cho chúng tôi các cái nhìn vào hiện thực – luôn với các thắc mắc chứ không triệt để hân hoan hoặc ưu sầu, cho nên, cũng trở nên một thái độ luôn mang tính phản tư and phản biện (bình thường phê phán) nhiều hơn. Còn về mặt rõ nét, như chị cũng biết, and như tôi thường vấn đáp khi có ai hỏi tôi từng học nơi đâu về: tôi trọn vẹn là made in VN. And con đường tiếp cận với nghệ thuật, and nghệ thuật đương đại của mình cũng theo mẫu hình chung của đa phần những nghệ sĩ dòng đời tôi. Có nghĩa là, một con đường của việc tự học hỏi and lao động. 

 

Tác phẩm process 2, Như Huy, 2003

 

Tác phẩm process 1, Như Huy, 2003

 

*

Tác phẩm process 1, Như Huy, 2003

 

*

Tác phẩm process 1, Như Huy, 2003

Có thể bảo rằng, bước ngoặt to của riêng tôi đó chính là khi, sau khi tiến hành các dự án mang tính vẻ ngoài thuần tuý (ví dụ với tác phẩm “process” hay loạt tác phẩm “Sự ẩn dụ” trưng bầy tại Red Mill Gallery ở Mỹ vào năm 2003), tôi đề ra một thắc mắc: Vậy thế rồi các tác phẩm nghệ thuật and dự án này sẽ đi đến đâu, bởi cùng lúc khi tôi nhận đc rất đông chăm sóc and hứng thú từ những nghệ sĩ and công chúng nước ngoài (tác phẩm của mình đã bán gần hết, and người dùng cục bộ là những nghệ sĩ nước ngoài) thì là cả một sự im lặng, băn khoăn and câu hỏi của những công chúng địa phương. Ngay khi đó, tôi đã cảm nhận thấy một hố sâu khó bề san lấp giữa cái gọi là nghệ thuật đương đại and cái không trung thế gới rõ nét với một bề dày quá khứ cùng một bây giờ đông đảo 1 chiều Vị trí tôi đang tồn tại. Ngay khi trỗi lên cái băn khoăn như thế, một loạt thắc mắc nữa cũng lại đã có mặt tiếp trong tôi. Làm phương thức nào bảo trì and kết nối đc thực hành của tớ với cái không trung rõ nét bao vây, làm thế nào để tác phẩm của tớ and bản thân mình không phải (chỉ) là một dạng “mật mã” vẻ ngoài riêng chỉ dành cho việc truyền thông online với những chủ chiếm hữu công cụ giải mã, nói phương thức khác, làm thế nào chạm, sờ vào đc vào cái hiện thực rõ nét đang xoay chuyển bao vây. Bởi theo tôi, không như những đồ trang trí, hiện thực văn hoá không có cao thấp, không có độc quyền, nó sẽ bị là cục bộ các gì ta nhận thấy, ý thức and giác ngộ đc – để rồi tìm phương thức chạm vào đc. Vì lẽ đó, nếu không giác ngộ thực sự đc hiện thực, nguy cơ cực to sẽ là việc phải kiến tạo nên một hiện thực giả, để rồi tương tác, sản tạo nên những kết luận, bình giải and xung đột với nó. And nếu như vậy, mọi thực hành nghệ thuật sẽ làm nên trọn vẹn rỗng and hụt hẫng như thể những động tác kịch câm mà thôi. Nói một phương thức nào đó, ngay từ khi ấy, tôi ý thức đc có nhu cầu làm sao để thực hành nghệ thuật đương đại, song, vẫn giữ mối dây liên lạc chặt chẽ với quá khứ, có nghĩa là tôi muốn tìm tới một thứ nghệ thuật, không phải như công cụ để cắt đứt đi quá khứ, mà công cụ để cắt nghĩa lại, tái diễn giải lại quá khứ, and qua đó tìm đc đầu mối để hiểu and giác ngộ bây giờ. Cũng phải nói thêm, trong các năm tháng đó, tôi chứa một cái phát tài là điều chỉnh viên của tạp chí online www.vnvisualart.com, là một trang web nghệ thuật do tôi cùng vài người bạn sáng lập để san sẻ thông tin nghệ thuật. Chính trang web đó đã là một cái cớ để bản thân tôi, tìm phương thức đọc and dịch rất đông thông tin cả về mặt lý thuyết and thực hành của nghệ thuật thế gới. Chính trong quy trình search thông tin này, mà rất đông thắc mắc đã đề ra với tôi, về bản thân ý nghĩa của nghệ thuật, về vai trò của nghệ sĩ, về vai trò của văn cảnh trong mọi nỗi lực tri nhận and thực hành nghệ thuật, về công việc phương thức nào áp dụng nghệ thuật không như các công cụ and nỗi lực vẻ ngoài – các công cụ and cố gắng hiện đã làm nên hết sạch trong chính văn cảnh khai sinh and duy dưỡng nó, v.v., and phát tài là tôi đã nhận được đc rất đông sự san sẻ từ những nghệ sĩ and lý thuyết gia tôi đọc, đặc biệt là các nghệ sĩ and lý thuyết gia ở (hoặc chăm sóc tới) Khu Vực Nam Á. 

Xem Ngay:  Appreciation Là Gì - Định Nghĩa, Ví Dụ, Giải Thích
 

*

Tác phẩm của nghệ sĩ China Liu Dahong

 

*

Tác phẩm của nghệ sĩ China Sui Jianguo

Thời gian đó, tôi cũng đã nhận thấy một sự khác biệt rất to lao giữa quy mô nghệ thuật đương đại VN and Trung Hoa, mà rất đông nghệ sĩ VN and lý thuyết gia nước ngoài thường cho là đồng nhất, and qua đó, đem đại tự sự của nghệ thuật đương đại Trung Hoa, dù vô thức, dù ý thức, làm khuôn mẫu cho nghệ thuật đương đại VN. Chính là cái khác biệt của tư thế phát ngôn của chủ thể nghệ thuật. Trái với nghệ thuật đương đại Trung Hoa, bởi thực chất từ khởi thủy của nó phát sinh từ có nhu cầu đả giễu (hay giải) những đại tự sự về chính trị and văn hoá của non sông, do đó, nhãn “cấp tiến” – một thứ Bắc đẩu Bội tinh có nền tảng từ thời Avant Garde của chủ nghĩa hiện đại – thường dễ gắn cho nó. Thế nhưng, tôi cho rắng, dù với tất những những đồng nhất về hệ thống chính trị hay quá khứ văn hoá, quy mô nghệ thuật đương đại của VN bây giờ, bởi những đặc tính địa lý, văn hoá and một vô thức mang tính thuộc địa (thứ mà nếu không đc đặt vấn đề một phương thức có ý thức, sẽ không dễ bỗng nhiên phai nhạt) phát xuất từ tiền đề không phải của một kẻ bẩm sinh ý thức về vị thế trung tâm (trong những mặt địa lý, văn hoá, chính trị v.v.) and cho nên, mối băn khoăn mang tính bản thể luận luôn khởi dậy trong tiến trình tìm phương thức định nghĩa kẻ khác để trải qua đó xác định bản thân, mà là của một kẻ do những hoàn cảnh địa lý, chính trị thế gới and lịch sử chi phối, luôn ở trong tiến trình “bị định nghĩa” liên miên, and cho nên, mối băn khoăn mang tính bản thể luận cao nhất của kẻ ấy luôn tồn tại trong tiến trình của cuộc chọn lựa sống còn, giữa việc chấp nhận bản thân là một vật thể bị định nghĩa hay khởi dậy một cuộc giải (and tái) định nghĩa bản thân? Sự khác biệt này còn làm nên to lao hơn khi ta cảm nhận, bởi đã có rất nhiều một cuộc Đại Phương thức mạng Văn hoá kinh thiên động địa, mà cố gắng đó chính là xoá sạch quá khứ. Những nghệ sĩ Trung Hoa chứa một quán tính rất to của những thái độ, hoặc là giễu nhại, hoặc là đả phá quá khứ, dù gần hay xa, là Vị trí với họ, dù thế nào đi nữa, đã không còn còn là một Khu Vực bất khả xâm phạm, hay nói phương thức khác, chỉ là một dạng bia ngắm cho những hành vi phản hồi về thế gới từ nhiều góc độ mà thôi. 

 

*

Tác phẩm của nghệ sĩ China Gu Wenda

Ở đây có thể lấy ví dụ của một nghệ sĩ Trung Hoa đương đại rất (cũng từng là một thư pháp gia) nhiều người biết đến như Gu Wenda chẳng hạn, một trong những thực hành của nghệ sĩ chính là việc tạo được những bức thư pháp khổ to, song với những mẫu tự Trung Hoa trọn vẹn bịa đặt. Chính tại điểm đó, những thực hành của nghệ sĩ Trung Hoa thân thuộc với những thực hành tiền phong của nghệ sĩ phương Tây, khi cả hai, dẫu có khác nhau chút đỉnh trong các đối vật mà họ nhắm vào, song quy mô cắt nghĩa bây giờ trong hành vi hướng tới tương lai, and cho nên, coi quá khứ chỉ như 1 thực thể vướng víu, là trọn vẹn đồng nhất. Trái với quy mô tiếp cận của chủ thể nghệ thuật Trung Hoa, quy mô của những chủ thể nghệ thuật tại VN, do các nhân tố lịch sử, thế gới, gắn chặt với chính thái độ tương tác với quá khứ, không như 1 bia ngắm, hoặc một mẩu ruột thừa, mà như 1 Khu Vực, bởi đã chìm lấp and mù mịt trong những lực định nghĩa khác nhau đến từ ngoài trời and từ cả phía trong, cần rất đông hành vi tái định nghĩa một phương thức có ý thức, từ chính những chủ thể mà đã không còn chối cãi đc – là hoa trái (dù đang héo khô hay vẫn xanh tươi) của những cội rễ quá khứ ấy. Trong luồng tư duy này, có thể lấy ví dụ về dự án giám tuyển “Việt dã Nghệ thuật”, mới đây nhất của mình (có thể xem trên blog: http://360.yahoo.com/vietdanghethuat); ở dự án này, bởi là một dự án tương tác đa diện, tôi đoán rằng sẽ có rất đông thông điệp đc nhận diện, thế nhưng, nói một phương thức nào đó, cái thông điệp khá rõ là việc những nghệ sĩ địa phương bây giờ, trải qua thực hành nghệ thuật, tìm phương thức tái định nghĩa chính nghệ thuật and vai trò của bản thân, một nghệ sĩ, trong mối liên nối với không trung thế gới mỗi ngày. Cũng cần nói thêm rằng, chính trong những hành vi tái định nghĩa này, mà một phương thức nào đó, những công cụ nghệ thuật “đương đại” có nền tảng phương Tây mới có thể tìm đc lối thích hợp để đi vào and rồi làm phát lộ các vấn để của hiện thực, để thoát khỏi điều kiện của những bộ binh khí sơn thếp sáng loà, mục đích chỉ để trưng bày trong ngôi đền thờ tính hiện đại 1 chiều phi văn cảnh and văn cảnh hoá.  Đào Mai Trang: Các bạn cũng đã có lần nói chuyện về một ý niệm của cá nhân anh: Chủ nghĩa Tân vẻ ngoài trong chuyển động thẩm mỹ và làm đẹp đương đại VN hiên giờ. Một lý giải từ góc độ tâm lý là người Việt vốn ưa trang trí and bắt chước. Song với một nghệ sĩ thẩm mỹ và làm đẹp bài bản trong bối cảnh giao lưu cộng đồng hiên giờ, góc độ tâm lý đó lại là một hạn chế to nếu với họ ngay trong việc tạo nên một mặt hàng nghệ thuật bản chất and có bản sắc cá nhân. Nhận định của anh về ý kiến này?  Như Huy: Bản sắc (identity), theo tôi, là một khái niệm vô cùng nan giải. And nói thực thì, cho tới hiên giờ, trong thời đại cộng đồng hoá, thắc mắc về bản sắc là một thắc mắc, dẫu luôn cần đề ra, song luôn luôn khó vấn đáp nhất. Thế nào là bản sắc cá nhân, liệu có cần là một thứ bản lai diện mục, là kết tụ của bản sắc chủ thể and bản sắc đối thể? Địa chỉ ta tĩnh tại là chính ta khi ta gặp mọi người, hay bản sắc là thứ loãng động liên miên, tuân theo những biến đổi của môi trường xung quanh bao vây? Hay bản sắc là một thứ hỗn trộn, đã không còn bắt vị trong bất cứ một định nghĩa nào? Lấy ví dụ, thế nào là bản sắc chính trị and văn hoá của của một chủ thể như Hồng Kông chẳng hạn, ngay chính trong thời hạn nó đang đc chuyển giao giữa Anh and Trung Hoa, hoặc thế nào là bản sắc văn hoá nguyên thuỷ của Singapore? Liệu bản sắc có cần là thứ, hoặc là đc kiến tạo qua định kiến trước của những người nhìn thấy, tạo thành những dạng chuẩn tắc phẳng tĩnh có sẵn, để rồi từ đó thẳng tay định nghĩa and áp đặt vào hiện thực theo những mục đích riêng, hoặc bản sắc phải chăng là thứ đc chính chủ thể bị nhìn ngắm tự tạo được, theo ý kiến của Alain Touraine, trong mặc cảm bị sa thải? Tóm lại, thắc mắc về bản sắc là một thắc mắc không dành cho các tư duy thơ ngây and nợ phê phán, đặc biệt là trong tình trạng của nước VN các bạn hiên giờ, về mặt văn hoá, một mặt đang cố gắng bước vào một sân chơi đa hướng, Vị trí mọi biên giới and định nghĩa tĩnh đông đảo đều bị xoá nhoà, một mặt lại phải đương đầu với những hệ thống văn hoá, cả về ý niệm and định chế, tại bản địa, mà nói thẳng thắn là chưa theo kịp với các yên cầu của thực tiễn. Chính do đó, những thắc mắc and giải đáp về căn tính thường luôn bị rơi vào hai Xu thế, có lẽ đều mang tính cực đoan giống hệt; hoặc căn tính văn hoá là một dạng nghĩa (meaning) theo quy mô ký hiệu học (semiotics) của Saussure, là một nơi phía bên trong một kết cấu có sẵn, là một dạng mã cổ xưa bất biến, nhằm mục đích chủ yếu để nhận ra “Ta” and “Họ”, hoặc là một dạng (tạm gọi là) “nghĩa luỵ văn cảnh” (signification), theo phương thức áp dụng mang tính kiến hiệu học (semiosis) của C. S. Peirce – luôn tồn tại trong cuộc biến động liên miên, đã không còn bị giảm thiểu thành một nơi sẵn trong một kết cấu sẵn, hay nói phương thức khác, đã không còn bị giảm thiểu chỉ vào mối quan hệ của nó với cái mã tạo sinh ra nó. Có nghĩa là, ở đây, đc nhìn theo phương thức này, căn tính văn hoá sẽ là một thứ luôn đc tạo mới, chịu ràng buộc vào những biến đổi văn cảnh. Có lẽ cũng chính bởi phương thức hiểu căn tính văn hoá theo mẫu của cái băn khoăn lưỡng phân cực đoan giữa “nghĩa” and “nghĩa luỵ văn cảnh” này, mà rồi, dường như mọi phương thức đọc and thực hành nghệ thuật “đương đại” ở VN hiên giờ, theo tôi, thường bị rơi (hay bị giảm thiểu) vào cuộc chiến giữa mới and cũ, giữa phương thức tân and bảo thủ, giữa các nhà tiền phong vẻ ngoài với nghệ thuật trình diễn, sắp đặt hay đa phương tiện luôn đòi phương thức tân and các kẻ trọn vẹn quanh quẩn bên luỹ tre làng, nước mắm hay áo dài. Nhìn một phương thức nào đó, thật cụ thể là cái cuộc chiến kiểu này trọn vẹn phù hợp với một số cái nhìn đơn sơ theo lý thuyết phương Tây về các thế gới như của VN, cho rằng, mọi phát triển dù là nan giải, chồng lớp nhất tại các Khu Vực đó, đều chỉ là các hình thái khác nhau của sự mô phỏng con đường phát triển (về những mặt, văn hoá, thế gới, thương mại) từ thấp đến cao của quy mô phát triển Âu – Mỹ. Hay nói phương thức khác, mọi băn khoăn and hiện tượng tại những Khu Vực đó, đều chỉ là muôn con đường để dẫn tới một thành Rome của một tính hiện đại phổ quát mà thôi. Trong khi đó, ngay tại chính Khu Vực này, cuộc chiến kiểu ta-địch cũng lại trọn vẹn phù hợp với các phương thức nhìn (đọc) phiến diện từ những nhà quản trị văn hoá. Khi cho rằng, cần bảo trì (hay tạo nên) một dạng bản sắc nào đó để đối lập lại với một tính hiện đại, mà với họ, chỉ mang về sự hỗn loạn and hư vô cho văn cảnh địa phương mà thôi. Từ góc độ một nghệ sĩ thực hành, bản thân tôi cho rằng cả hai phương thức tiếp cận với căn tính văn hoá theo mẫu nói trên, bởi sự cực đoan của nó, đều có vấn đề. Vấn đề của phương thức nhìn hướng về quá khứ (khi coi căn tính văn hoá là một đồ gì bất biến and sẵn có) đó chính là việc, ở khía cạnh tệ nhất của nó, sẽ nẩy sinh ra có nhu cầu kiến tạo huyền thoại, hiểu một phương thức nào đó, nhằm thành lập một dạng quyền lực tối cao nhân danh cái bất biến, cái quá khứ để nhằm áp chế bây giờ, áp chế cái-đang-là, cái chưa hoàn tất and còn xa mới kết thúc. Xét về mặt bản thể luận, chính là một hành vi trái bỗng nhiên and dù bởi bất cứ lý do gì, đều không lành mạnh cho phát triển. Sở dĩ vẫn còn tồn tại rất nhiều bạn đồng thuận cùng tầm nhìn này, theo tôi, đấy là bởi họ chưa ý thức đc rằng, trong một thời đại như bây giờ, quá khứ còn xa mới là một thực thể tĩnh and thậm chí đã đc định nghĩa xong. Bởi những quyền lực tối cao truyền thông online trung tâm hoá and sức khỏe vô song của hình ảnh (and khả năng điều khiến hình ảnh của các thế lực đặc quyền hình ảnh), nó là thứ thậm chí còn đc sáng tạo nên, huyền thoại hoá and chuẩn bị mở ra cho sự tái định nghĩa (trải qua những công cụ and năng lực diễn giải vô song của thời buổi các bạn) liên miên, đặc biệt là khi cái quyền lực tối cao quan yếu nhất của thời buổi chính là quyền lực tối cao truyền thông online, dù tường minh, dù ẩn giấu, luôn là thứ phía bên trong tay của một nhóm người mà thôi. Ở chiều ngược lại, Mặt khác phương thức tiếp cận với căn tính văn hoá hướng tới sự mở ra cho tương lai luôn bất định (khi coi nó như 1 dạng “nghĩa luỵ văn cảnh”) cũng có thêm các vấn đề của nó, mà vấn đề to nhất, đó chính là việc nó đã đặt tiền đề trên sự phi hoá cái “Tôi”, cái nhất tính của nhân vị (theo phương thức quan niệm của Parfit, dẫn theo Paul Ricoeur trong khảo luận triết học nhiều người biết đến của ông, Chính mình như 1 người khác, NXB Thế giới, 2002). Parfit quan niệm cái “Tôi” ấy của mọi chủ thể đã hết là một hạt nhân trường tồn trong thời hạn mà chỉ là một thể hiện rỗng nghĩa. Từ đó, ông cho rằng, những chủ thể hãy bớt ưu phiền về mình đi, đừng băn khoăn tới việc phải xem như, liệu kinh nghiệm này hay kinh nghiệm nọ thuộc về ai. Những chủ thể, thay thế vì coi sự thống nhất and có nhu cầu đòi độc lập cho bản sắc của chúng là điều quan trọng, hãy coi sự thống nhất ấy như thể một tác phẩm nghệ thuật mở. Tuy vậy, ngay tại đây, chính Paul Ricouer cũng đã bắt gặp chỗ yếu trong quan điểm của Parfit, đấy là việc: ngay chính sự đề ra vấn đề quan trọng hay không quan trọng của bản sắc, qua đó giải huỷ tầm quan trọng của bản sắc, theo phương thức mà Parfit làm, đã hàm chứa mâu thuẫn bởi, nếu không chứa một chủ thể chiếm hữu bàn sắc đó trước khi nó đc đặt nghi vấn, hành vi tiến công vào cái bản sắc ấy liệu có thể tiến hành đc không? Có nghĩa là dù gì thì gì, những chủ thể đều chiếm hữu bản sắc, and cái bản sắc đó không cần là một chiếc ghế không người and không cần chăm sóc đến độ nhất định của nó nữa, mà vấn đề tọa lạc ở chỗ ta quan niệm and sau đó ứng xử thế nào về (với) cái bản sắc ấy thôi. Quan điểm của cá nhân tôi về vấn đề này, trong ngành nghề thực hành văn hoá (với tôi, nghệ thuật thị giác, với nghĩa rộng nhất của nó, trong thời buổi này đó chính là công cụ thực hành văn hoá lớn mạnh nhất) là: dẫu (có lẽ) không lúc nào có thể tồn tại một dạng bản sắc tĩnh trong hình thái những chuẩn để chi phối bây giờ, and cũng không lúc nào có thể tồn tại một chủ thể (văn hoá, cá nhân, etc.) vô bản sắc, hay nói phương thức khác, mang theo một dạng bản sắc tắc kè hoa, luôn hướng tới sự convert, thì ngay chính vào thời hạn phát ngôn của mọi chủ thể, tức là ngay vào thời-điểm-tại-đó, khi chủ thể phát sinh hành vi tương tác với ngoại giới, sẽ luôn chứa một bản-sắc-tĩnh-ngay-phút-đó trùng khít với chủ thể. Chính cái bản sắc tĩnh này sẽ cũng trở nên sức nặng cho những phát ngôn, nói phương thức khác, cho hành vi tương tác với đối tượng người sử dụng của chủ thể đó, cứu tạo được mối liên lạc có thật (and đáng tin) của chính chủ thể đó với đối tượng người sử dụng. Tức là ở đây, chính cái bản sắc trùng khít với chủ thể sẽ cứu cho chủ thể ấy trùng khít với ý định and hành vi của bản thân vào cái đích phát ngôn nào đó mà nó nhắm hướng tới. Cái bản sắc này, nói một phương thức nào đó, đó chính là một-vật-chuẩn-trực-thời cho chủ thể, cả về mặt động lực lẫn hiệu quả, cứu chủ thể ấy có thể tiến hành thành công hành vi phát ngôn and tương tác của bản thân với đối tượng người sử dụng.

Xem Ngay:  Chiêu thị là gì

Xem Ngay: Trực Tràng Là Gì – Tọa lạc nơi đâu Trong Cơ Thể

  Trên chính là các tư duy của mình về chủ đề căn tính. Sau đây, tôi sẽ lý giải sơ qua về cái mà tôi gọi là một “chủ nghĩa Tân vẻ ngoài” trong nghệ thuật “đương đại” VN. Khái niệm Tân vẻ ngoài tôi nói ở đây, có nền tảng từ chủ nghĩa vẻ ngoài theo kiểu Clement Greenberg (đc ban đầu từ Immanuel Kant), đại ý là, coi linh hồn của một hình thái nghệ thuật nào đó tọa lạc ở sự khác biệt vẻ ngoài của nó với những hình thái nghệ thuật khác-nó, coi nhân tố công cụ and vẻ ngoài, song song với cảm thức phổ quát về khiếu mỹ thuật nghệ thuật, cũng tương tự tính biệt lập của nó là nhân tố quan trọng nhất để nhận ra tác phẩm nghệ thuật này cao hơn tác phẩm nghệ thuật khác, triệt tiêu cục bộ khía cạnh mang tính thế gới của nghệ thuật (hãy nhớ tới ý kiến nhiều người biết đến của Kant về tính vô dụng của nét đẹp). Tóm lại, chủ nghĩa vẻ ngoài của Greenberg, nhìn từ góc độ ký hiệu học, đó chính là một cố gắng kéo xa nhất như có thể khoảng phương thức của năng biểu (signifier) and sở biểu (signified), and chính bởi thế đặt nghệ thuật vào trong Khu Vực tri nhận mang tính vẻ ngoài thuần tuý. 

 

*

Tác phẩm của nghệ sĩ Morris Louis

Hãy nhớ tới những nghệ sĩ mà Greenberg từng cổ vũ, như Jackson Pollock, hay Jules Oliski, Morris Louis hay Kenneth Noland chẳng hạn, với người trước tiên, là một nghệ sĩ thể hiện trừu tượng (abstract expressionism), and với các người sau là các nghệ sĩ (tạm gọi là) hậu trừu tượng hoạ pháp (Post-painterly abstraction), hay còn đc gọi là những nghệ sĩ tranh mảng miếng (màu sắc field painting). Dẫu rằng mọi cố gắng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật, tại môi trường xung quanh Âu – Mỹ, đều nhắm hướng huỷ giải tính biệt lập của nghệ thuật – trải qua những công cụ nghệ thuật như nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật môi trường xung quanh, nghệ thuật sắp đặt hay nghệ thuật nhiếp ảnh, nghệ thuật video clip, để tìm tới các đường dẫn tương liên của nó với thế gới, khi đc phần mềm vào nghệ thuật đương đại VN, chính những công cụ nghệ thuật này đã sinh ra một tình thế rất lạ lùng. Chính là việc, dẫu cho những công cụ nghệ thuật kể trên, như đã nói, là các công cụ ra đời (hoặc đc phần mềm) nhằm mục đích biến những thực hành nghệ thuật thành ra các đăng kết sâu hơn vào những chủ đề thế gới, chính trị, thế nhưng, trong hoàn cảnh VN bây giờ, do nhiều lý do khách quan and chủ quan, chính những công cụ đấy tiềm năng cho những tầm nhìn hướng vào các chủ đề thế gới, chính trị, dường như lại đã bị nhiều nghệ sĩ tiếp cận ở góc độ vẻ ngoài đơn thuần, như các công cụ rỗng nghĩa chỉ nhằm mục đích chứng minh sự phương thức tân vẻ ngoài mà thôi. Theo tôi, có hai lý do chính cho tình trạng này, về chủ quan, có lẽ do chưa chăm sóc nhiều đến khía cạnh thực hành văn hoá của những thực hành nghệ thuật, hoặc do một quan điểm về chính trị chiến tranh lạnh ta-địch kiểu cũ, như đã đề cập vắn tắt ở trên cao, vậy nên, những thực hành của một số nghệ sĩ thường giảm thiểu thành ra những thực hành thuần tuý vẻ ngoài, hay thành những cổ động thuần tuý 1 chiều . Một lý do khách quan cho tình trạng này, cũng phải kể đến, đấy là việc, có lẽ cũng do hệ thống kiểm duyệt quan liêu không theo kịp với hiện thực, vậy nên, dẫu có muốn đi chăng nữa, những thông điệp chính trị thế gới độc lập của những nghệ sĩ cũng thật khó để tiếp cận với hiện thực với công chúng mà không bị những tầng kiểm duyệt quan liêu and đơn sơ giảm thiểu đi thành ra các đống công cụ dẫu có kết cấu nan giải tới đâu – cũng trọn vẹn rỗng nghĩa. Ấy thế nhưng, bởi mang đặc tính gốc là các công cụ trọn vẹn phi (phản) vẻ ngoài, khi đc áp dụng vào các thực hành nghệ thuật chúng luôn tỏ ra nhậy hơn với những chủ đề chính trị and thế gới. Chính vì lẽ đó, những nhân tố chính trị, thế gới and thực chất tái trình hiện (representational) bình thường ta cảm nhận phảng phất trong một số thực hành của một số nghệ sĩ trong hoàn cảnh VN, nhìn một phương thức nghiêm túc, không cần là các hoa trái sinh ra từ cố gắng tư duy and quán chiếu vào hiện thực của bản thân những nghệ sĩ, mà chỉ là các nhân tố có sẵn (tôi nhấn mạnh), trong thực chất vẻ ngoài của những công cụ ấy mà thôi. 

 

*

Sắp đặt của nhóm nghệ sĩ Oasis, Hàn Quốc

Ở đây, cũng nên chú ý rằng, đã có rất nhiều rất đông nghệ sĩ Nam Á thậm chí hướng thực hành nghệ thuật của họ tới một chiếu hướng phản tư vào ngay chính những công cụ thực hành nghệ thuật có nền tảng phương Tây, ví dụ nghệ sĩ Thái Lan Rikrit Tiravanija, hay nhóm nghệ sĩ Oasis của Hàn Quốc chẳng hạn, người đầu thì từng áp dụng không trung trưng bầy của Venice Biennale để trồng cây, còn nhóm sau thì lại từng giải hoá quy mô nghệ thuật sắp đặt thành ra những đồ vật khả dụng, khi đem chúng vào không trung thực, cho công chúng áp dụng như những công cụ cho đời sống mỗi ngày của họ. Vì những lý cho nên, trong quan sát của tớ, tôi coi cục bộ những thực hành của các nghệ sĩ VN nào, các người dùng các công cụ phi (phản) vẻ ngoài mang mầu sắc tái trình hiện như sắp đặt, trình diễn, video clip, v.v., nhưng lại chỉ với mục đích vẻ ngoài đơn thuần, kèm theo một số thông điệp chính trị thế gới đơn sơ mang vai trò nguỵ trang cho mục đích vẻ ngoài ấy – là các nghệ sĩ tiến hành dạng nghệ thuật vẻ ngoài kiểu mới hay có thể gọi là dạng nghệ thuật Tân vẻ ngoài – dạng nghệ thuật khi bản thân những nhân tố vẻ ngoài của công cụ đã hủy diệt đi câu chuyện.

Thể Loại: Share Kiến Thức Cộng Đồng

Bài Viết: Nghệ Thuật Đương Đại Là Gì, Một Hành Trình Của Nghệ Thuật Đương Đại Thế Giới

Thể Loại: LÀ GÌ

Nguồn Blog là gì: https://hethongbokhoe.com Nghệ Thuật Đương Đại Là Gì, Một Hành Trình Của Nghệ Thuật Đương Đại Thế Giới

Leave a Reply